Câu chuyện du lịch: Xuôi dòng Cửu Long

By Alex Nguyen
May 28th, 2016
0 Comments
226 Views

Cuối tháng 4, chúng tôi theo tàu xuôi theo dòng Cửu Long giang. Sau nhiều năm, giờ mới có dịp thực hiện chuyến đi này giữa lúc miền Tây đang bị giặc mặn và nạn hạn hán hoành hành. Chưa bao giờ mà vấn nạn về môi trường lại tác động lên cuộc sống người Việt cụ thể đến thế, trực tiếp đến thế và kinh hoàng đến thế. Trôi trên dòng Mekong rộng lớn và thấp thỏm mang trong mình một mối lo cho những địa danh vốn nổi tiếng trù phú một thời.

Chợ nổi Cái Bè – cửa ngõ hành trình

Chợ nổi Cái Bè dù chưa khi nào được đánh giá cao bằng chợ Cái Răng, Phong Điền hay Phụng Hiệp về độ sầm uất bán buôn và hấp dẫn, nhưng vẫn luôn là cửa ngõ cho du khách bắt đầu một hành trình khám phá dòng Mekong và những cù lao nức tiếng vùng châu thổ.

Chợ nổi Cái Bè của tháng 4/2016 đìu hiu hơn hẳn những năm trước. Nhưng những căn nhà sàn hai bên sông ở khu vực này thì hầu như không mấy thay đổi, ngoại trừ sự biến mất của những làng nghề mà tôi từng đặt chân tới: làng gốm Vĩnh Long đã mất tên, những lò gạch bông theo phương pháp cổ truyền từng được du khách rất say mê cũng đã không còn.


Bình minh trên Sông Tiền

Thay vào đó là những điểm dừng chân giống hệt nhau: Lò làm kẹo dừa, bánh tráng, làm cốm, nấu rượu, những quầy lưu niệm bán tranh chép, thổ cẩm, lưu niệm Trung Quốc… Những quầy hàng san sát nhau trong cái nóng hầm hập, dù là ngay bên bờ sông. Những em bé níu kéo du khách mua thiệp, những người dân ngồi bên sạp hàng thờ ơ nhìn khách qua lại.

Dù không có cảnh nườm nượp như đi trẩy hội mà tôi luôn thấy tại các điểm tương tư tại Mỹ Tho, Bến Tre, nhưng quang cảnh đó cũng làm bất cứ người nào đã biết một Cái Bè, Vĩnh Long mộc mạc, hồn hậu khi xưa phải nhói lòng.

Tưởng như chạm được vào quê hương, thật gần…

Tương truyền, từ thời khẩn hoang tới khi người Pháp đặt chân tới đây, vùng Cái Bè là nơi sinh sống của hai dòng họ đầy quyền lực và và danh tiếng là Phan và Trần. Vì vậy, đa số các ngôi nhà lớn, cổ kính được xây dựng trước 1945 hầu như đều thuộc về hai dòng họ này, tập trung tại Hòa Khánh và Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè. Nổi tiếng nhất có ba ngôi nhà của ông Cai Huy (1868), ông Út Kiệt (1838) và nhà ông Ba Đức (1938).

Thuyền chúng tôi cập bến tại Đông Hòa Hiệp, một ngôi làng cổ hình thành từ thế kỷ 18. Có hơn 3.000 hộ dân đang sống tại 6 ấp, chủ yếu nhờ vào những vườn cây ăn trái: Những mái nhà thấp thoáng giữa vườn cây ăn trái. Nhà nào cũng có hàng rào bông bụt trổ bông đỏ rực và khu vườn lớn. Con đường nhỏ men theo sông, đón gió mát rượi.

Ngôi nhà gỗ của ông Trần Tuấn Kiệt, một trong những ngôi nhà cổ nhất làng, là nơi chúng tôi chọn ghé thăm. Được biết, trong khuôn khổ của một dự án trùng tu nhà cổ Nam bộ do tổ chức JICA của Nhật tài trợ, ngôi nhà có niên đại 1838 này đã vượt qua 355 ngôi nhà cổ khác tại Tiền Giang và là một trong 9 ngôi nhà cổ trên toàn quốc được dự án này chọn trùng tu vào năm 2003.


Phong cảnh trên sông

Toàn bộ kiến trúc kiểu chữ Đinh, 5 gian 3 chái, với những cây cột bằng gỗ căm xe núi rất quý hiếm, đã được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Mái nhà lợp ngói thấp giống như hầu hết các nhà đồng bằng Nam bộ, và “bức tường” nơi mặt tiền nhà là những lam gỗ, vừa có tác dụng đón khí, vừa lọc và lấy sáng, tạo ra một cảm giác vô cùng dễ chịu.

Có một không khí xưa mà không cũ, hiển hiện rất rõ trong những chái nhà. Giữa trưa hè oi nóng, ngồi trên bộ bàn ghế khảm xà cừ đã lên nước đen bóng, giữa những diềm cửa, bao lam bằng gỗ gõ sừng, giữa những hoa văn mai, lan, cúc, trúc… thân thuộc, nhìn ra khu vườn xanh mướt một màu cây ăn trái chìm trong hương thơm quấn quít của nguyệt quế, mai chiếu thủy… tưởng như chạm được vào quê hương, thật gần.

Về “Nhà Người tình” ở Sa Đéc

Rời Cái Bè, tàu đưa chúng tôi xuôi dòng sông Tiền về Sa Đéc. Không thể phủ nhận rằng, thành phố nhỏ bên bờ sông Tiền này có một sức cuốn hút ghê gớm ở sự duyên dáng mà hiếm có thành phố nào trong vùng có được. Mỗi năm tôi đi Sa Đéc tới 3-4 lần, vào những mùa khác nhau, mà vẫn luôn thấy có nhiều điều để khám phá.

Lần này là một tour xe đạp hơn 10km, vòng vèo trên những con đường phía nam làng hoa Tân Qui Đông, tránh khu trung tâm của làng luôn đông đúc du khách. Con đường làng không một bóng người, mát rượi với tre trúc, những cổng hoa và cây trái um tùm, chạy dọc theo một con kênh có những cây cầu tre lắt lẻo bắc ngang…

Đến Sa Đéc, không thể không ghé thăm ngôi nhà cổ nổi tiếng của ông Huỳnh Thủy Lê mà giờ đây du khách quen gọi là “Nhà Người tình”, dựa theo câu chuyện tình diễm lệ và tiểu thuyết của nữ văn sĩ người Pháp M.Duras.


“Nhà Người tình” của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc

Ngôi nhà được thương gia người Hoa tên Huỳnh Cẩm Thuận, cha của ông Huỳnh Thủy Lê, xây bằng gỗ theo kiểu Quảng Châu vào năm 1895. Năm 1917 ông cho sửa mặt tiền theo kiểu Pháp, nhưng bên trong vẫn giữ lối kiến trúc và nội thất kiểu Hoa với những bao lam sơn son thiếp vàng và án thờ Quan Công ngay giữa nhà. Gạch lát nền nhà được nhập từ Pháp vào năm 1917, đến nay vẫn còn như mới.

Khác với những ngôi nhà cổ ở Cái Bè hay Bến Tre, Bạc Liêu, có lẽ nhà cổ của “Người tình” hút khách chủ yếu nhờ cuốn tiểu thuyết và bộ phim cùng tên. Nhiều người còn đặt phòng qua đêm tại đây với hy vọng thưởng thức được không khí như trong tiểu thuyết, dù nhân vật chính hầu như ít sống trong ngôi nhà này.

Ấn tượng nhất với tôi trong ngôi nhà là những chi tiết của bao lam, những chạm khắc tinh xảo motive chim, hoa bằng gỗ sơn son thếp vàng và sự kết hợp đẹp của cách trang trí Đông – Tây trên những cánh kính.

Ngoài ra thì ngôi nhà cổ này toát lên một uể oải và trễ nải, vì thiếu sự chăm sóc và đã khá xuống cấp, nhất là phần la phông trần, khu vực sân trước (làm chỗ để xe), logia (dùng để bàn nước) và toàn bộ khu vực phía sau nhà có phần lộn xộn.

Đó cũng là tình trạng chung trong khá nhiều di tích tại Việt Nam. Đây đó vẫn thấy thiếu một bàn tay chăm chút cho những gì cần được trân trọng và giữ gìn. Mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng rõ ràng là “trình” quản lý di tích của nhà cổ ông Kiệt tại Cái Bè hơn đứt di tích nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê tại Sa Đéc về nhiều phương diện.

———- o0o ———-

Long Xuyên được biết tới như một thành phố phát triển chủ yếu về mua bán lúa gạo và chế biến thủy sản (nuôi cá basa). Nằm bên bờ Tây sông Hậu, Long Xuyên không phải là một điểm đến hấp dẫn của tỉnh An Giang như Châu Đốc, nơi có nhiều thắng cảnh thiên nhiên và tôn giáo nổi tiếng. Có lẽ chúng tôi cũng sẽ chỉ ghé ngang Long Xuyên kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” nếu thực hiện chuyến du hành này bằng đường bộ.

Tuy nhiên, khi du hành trên sông, chuyến đi mang một sắc thái và cho ta những góc nhìn khác hẳn.

Bình minh rực rỡ trên sông Hậu

Rời Sa Đéc và sông Tiền, tàu lênh đênh trên sông Hậu, ngang qua nhiều ngôi làng và thị trấn nhỏ trong ánh chiều tà của buổi hoàng hôn. Gió phần phật thổi trên bong, trái ngược hẳn với cái nắng nóng gay gắt như khi chúng tôi còn trên bờ.

Nếu như không trải qua những thời khắc trên sông, khó có thể hình dung ra một cuộc sống đường thủy sôi động đến vậy. Rất nhiều sà lan lớn chở cát, nhiều tàu chở đầy trấu và nhiều ghe xuồng chở hàng ngược xuôi trên sông.

Qua ống kính tele, cuộc sống ven sông dân giã như những thước phim quay chậm hiện ra trước mắt. Từ ngàn đời nay, con sông chở đầy phù sa vẫn là nguồn sống của người dân nơi đây. Người ta đánh cá, làm lúa và trồng rau, tắm rửa và giặt giũ bên bờ sông.

Những bến sông với những cây cầu tre dưới bóng si già um tùm, tưởng như chỉ còn trong những câu chuyện kể, nối đuôi nhau chạy dài theo dòng sông. Những ngôi làng chìm dần vào bóng đêm khi mặt trời dần khuất, tiếng côn trùng nỉ non trên bờ hòa vào tiếng ì ì  của con tàu, khiến dòng sông bỗng trở nên đầy bí ẩn.


Chợ nổi Long Xuyên

Sau một giấc ngủ không mộng mị trong những cabin nhỏ hẹp, chúng tôi vừa thưởng thức bữa sáng trên bong tàu vừa đón bình minh trên sông. Ngay lúc mặt trời vượt lên trên rặng cây phía xa, cả bầu trời đang từ màu xanh xám pha hồng cam bỗng nhuốm vàng rất nhanh. Sắc độ của màu vàng ngày càng mạnh hơn.

Nhưng điều cuốn hút hơn cả lại là dòng sông chứ không phải bầu trời. Mặt nước lóng lánh trong một sắc vàng rực rỡ ở nơi ánh mặt trời đi xuyên qua. Buổi bình minh trên sông thật quá khác so với bình minh trên biển. Cứ nghĩ rằng mặt nước nâu xám kia chẳng thể nào đủ hấp dẫn. Vậy mà quá bất ngờ khi được chứng kiến giây phút của bình minh vàng.

Thiên nhiên quả thật diệu kỳ, và nếu như không đi, cả cuộc đời ta sẽ không bao giờ có được những giây phút rực rỡ, lộng lẫy đến vậy.

Bình yên ở chợ nổi Long Xuyên

Chúng tôi rời tàu, lên ghe nhỏ đi thăm chợ nổi Long Xuyên nằm tại phường Mỹ Phước cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 2km. Điểm khác biệt với những vùng khác là ở Long Xuyên, chợ nổi họp suốt cả ngày và vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên sơ của sinh hoạt vùng sông nước miền Tây.

Những thuyền hàng đậu dài hàng km trên sông, chủ yếu bán các mặt hàng nông sản như bí, khoai, cà, rau, củ và trái cây, nhiều nhất là dừa và chuối. Cũng giống như ở các chợ nổi miền Tây khác, những sản vật này được treo trên cây sào cao mà người địa phương gọi là “cây bẹo”, giúp thương lái nhận biết mặt hàng từ xa. Rất nhiều những ngôi nhà -thuyền san sát bên các thuyền hàng.

Nơi đây có gần 400 hộ dân sống trên thuyền, tạo thành một làng ghe trên sông. Hầu hết những cư dân này từ Châu Đốc tới đây lập làng hơn 10 năm trước, khi các nhà bè ở Châu Đốc phá sản. Họ sống bằng nghề lột dừa, bốc hàng mướn và buôn bán nhỏ.

Quần áo phơi đủ màu, đủ kiểu dọc theo mạn thuyền. Không thuyền nào là không có ít nhất một chậu cây xanh. Những chiếc đò chèo nhỏ bé của mấy bà, mấy chị chở theo đủ loại đồ ăn thức uống, từ nước giải khát, cà phê tới những nồi hủ tíu, bánh canh, bánh tầm… len lỏi giữa khối thuyền lớn, phục vụ người mua kẻ bán trên sông.

Ở chợ nổi Long Xuyên, tôi vẫn có y nguyên cảm giác từng có tại mọi chợ nổi ở vùng sông nước Nam bộ: là chợ, nhưng không có cái xô bồ, hối hả của chợ trên bờ, không có trả giá, và cũng ít lao xao hơn. Dường như dòng sông đã làm dịu đi nhiều thứ. Nhưng không vì thế mà chợ nổi mất đi những thanh âm và sắc màu hấp dẫn. Cuộc sống sông nước diễn ra qua bộ mặt chợ thật nhẹ nhàng và bình yên.

Những toan tính ganh đua đã lùi lại rất xa

Điểm dừng chân tiếp theo của hành trình là Cù lao Ông Hổ, với hơn 20km đạp xe trên đường làng. Cù lao này do phù sa sông Hậu bồi đắp mà thành, nay thuộc địa phận xã Mỹ Hòa Hưng.

Tại miếu Ông Hổ, chúng tôi được những người dân kể cho nghe câu chuyện cảm động về một con cọp trung thành với gia đình người nông dân đã cứu mạng từ thuở khẩn hoang xưa. Dân làng mến thương con cọp tình nghĩa nên đã đặt tên cù lao này là Cù lao Ông Hổ.

Chúng tôi ghé thăm một làng se nhang, nơi mà công việc đã được cải tiến đáng kể nhờ một loại máy se thô sơ tự chế. Nhang ở đây được làm từ lá của cây gòn.  Người ta dùng luôn đường làng làm sân phơi lá. Sau khi khô, lá gòn được xay nhuyễn và pha thêm bột quế để tạo hương. Không xa làng se nhang là một cơ sở dệt lưới theo phương pháp cổ truyền với những chiếc máy có lẽ đã hàng chục năm tuổi.

Trước kia Long Xuyên – cũng như nhiều tỉnh châu thổ sông Cửu Long khác – nổi tiếng về những làng nghề như se nhang, làm bánh tráng, làm lưỡi câu, làm dầm chèo, chằm nón, dệt lưới, đóng ghe xuồng…, nhưng ngày nay các làng nghề cũng đang vào hồi thoái trào trước cơn lốc của thời hiện đại.

Con đường đưa chúng tôi đi ngang qua nếp nhà chạy dọc theo những con kênh chằng chịt và những con đường đầy cây ăn trái đang vào mùa. Vào mùa nước nổi, nước sông Hậu tràn vào những con kênh, mang theo tôm cá và phù sa cho cù lao này. Xoài lúc lỉu bên những bờ rào và những cây mít trĩu trịt trái dưới gốc và cả trên cành. Không ở đâu mà tôi nhìn thấy những cây mít có nhiều trái đến thế.

Ngay cả những ngôi nhà ở đây cũng khá đặc biệt. Rất nhiều nhà sàn, có lẽ để chống ngập mùa nước nổi. Nhà không có cửa, mà chỉ có một lối vào và tường mặt tiền là những lam gỗ đan chéo hoặc thành ô vuông, vừa lấy sáng vừa lấy thoáng.

Hầu như nhà nào cũng có một ban công – logia ở phía trước. Dù là buổi trưa, vẫn có nhiều người nhàn nhã ngồi bên hiên nhà hay trong những quán nhỏ ven đường. Cuộc sống nơi đây giản dị và quá đỗi yên bình. Có cảm giác như bao sôi động ồn ã của chốn thị thành, những mối quan tâm nóng bỏng về thời cuộc, những toan tính ganh đua… đã lùi lại đâu đó, rất xa.

———- o0o ———-

Tàu chúng tôi neo tại một bến khuất cách Châu Đốc chỉ khoảng 7 km. Đêm trên sông rất lạ…Không có màn đêm đen kịt, che phủ mọi thứ, không có bóng tối bao trùm tạo cảm giác sợ hãi. Dù không có trăng, ánh sáng vẫn lờ mờ đâu đó phát ra từ những xóm làng đang chìm trong giấc ngủ sâu, mặt nước vẫn lóng lánh in hình những vườn cây, bờ bãi ven sông, tạo nên một không gian quá đỗi yên bình.

Từ làng bè trên sông Hậu

Nằm giáp biên giới Campuchia, Châu Đốc vốn nổi tiếng nhất với loại hình du lịch tâm linh với hàng trăm ngôi chùa, đền, miếu và tịnh thất. Hàng năm, vào dịp lễ hội vía Bà Chúa Xứ, dòng người hành hương ùn ùn đổ về Châu Đốc.

Bỏ lại Châu Đốc sầm uất trên bờ, chiếc tắc ráng đưa chúng tôi tới làng bè. Dù là buổi sáng sớm, nhưng khung cảnh làng bè khá trầm lắng, trái ngược với những gì tôi từng được biết khi xưa về một làng bè trải dài suốt 4km trên sông Hậu, đoạn gần thành phố Châu Đốc.


Rừng tràm Trà sư

Xưa kia chỉ có chủ yếu là bè cá, thì nay có rất nhiều bè-nhà, ngang 4-5 m, dài khoảng 8m, nơi sinh sống của nhiều gia đình vẫn còn gắn bó với nghề nuôi cá.

Chúng tôi ghé thăm một bè trong làng nổi. Anh chủ nhà nhiệt tình giới thiệu quy trình nuôi cá ba sa, và các công đoạn chế biến thức ăn cho cá. Đóng một bè cá chỉ bằng cây và gỗ, mái lợp tôn, có đáy bọc lưới kẽm sâu khoảng 10m, hết hơn 100 triệu đồng, bán một ký cá chỉ gần 20 ngàn đồng, mà tìm đầu ra càng ngày càng khó. Vậy mới thấy hết những khó khăn của người dân nơi đây, nhiều hộ gia đình đã phải dẹp bè, chuyển qua nghề làm mướn hoặc buôn bán trên những chợ nổi trong vùng.

Những vùng sông nước miền Tây luôn để lại ấn tượng đặc biệt trong tôi qua những con phà trắng. Những chuyến phà ngược xuôi trên dòng Cửu Long mênh mang đậm màu phù sa có những giề lục bình (“giề”, tiếng địa phương, nghĩa là “đám”: đám bèo, đám cỏ, đám rác) nhấp nhô trên sóng, là hình ảnh không con sông nào trên mảnh đất chữ S này có được. Hình ảnh ấy cùng giọng ca tài tử ngọt ngào trong vắt trên sông, bao người Nam bộ đã mang theo trên những chặng đời xa xứ.


Những em bé làng Chăm Châu Giang

Đến làng Chăm Châu Giang

Từ Châu Đốc, lên một chuyến phà ngang là tới làng Chăm Châu Giang, ngôi làng dệt thổ cẩm bên bờ sông Hậu khi xưa, bên cạnh những tên tuổi nức tiếng một thời như làng dệt lụa Tân Châu hay làng thổ cẩm Châu Phong.

Khác với người Chăm miền Trung theo đạo Hồi Bà-ni hay Bà-la-môn, người Chăm Châu Giang theo Islam với những quy định nghiêm ngặt của Hồi giáo chính thống. Phụ nữ mặc áo cùng váy cuốn hoặc áo dài kiểu Chăm và đều trùm khăn Mat’ra che tóc. Đàn ông già thì mang nón đen, trẻ thì mang nón trắng và đều cuốn xà rông.

Làng Chăm nay đã được mở rộng bằng một con đường nhựa chạy xuyên làng. Tòa thánh đường với những cây thốt nốt in hình trên những khung cửa sổ lớn hình mặt trăng và mặt trời vẫn uy nghi và rộng mở. Nơi đây sẽ nhộn nhịp 5 lần trong ngày vào những giờ cầu nguyện theo phong tục của đạo Hồi. Nhà sàn của người Chăm thường được cất theo hướng Đông, bên dưới là nơi sinh hoạt chung hoặc dệt vải, chứa đồ.

Nghề dệt thổ cẩm tại Châu Giang đang mai một cùng thời gian, như bao làng nghề khác tại Việt Nam. Dưới những bóng cây, vài ba người đàn bà ngồi chuyện phiếm. Vài tiệm nhỏ bán những trái thốt nốt tươi, bánh bò và tung lung mò (lạp xưởng bò truyền thống của người Chăm) bên lề đường.


Làng bè Châu Đốc

Trong hương tràm Trà Sư

Tới Châu Đốc mà không ghé rừng tràm Trà Sư thì quả là một điều đáng tiếc. Vì thế, dẫu cho thời tiết đầu tháng năm nóng như đổ lửa, và không phải mùa nước nổi đẹp nhất của rừng tràm, chúng tôi cũng vẫn quyết định thăm Trà Sư.

Nằm tại Xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách Châu Đốc khoảng 20km và cách biên giới Campuchia khoảng 10km, Trà Sư là một khu rừng ngập nước, thuộc hệ thống rừng đặc dụng tiêu biểu của vùng Tây sông Hậu, nơi có nhiều loài chim nước, động vật hoang dã và thủy sinh cư trú.

Từ trạm tiếp đón, du khách lên xuồng máy đi khoảng 5km trên con kênh lớn dẫn vào rừng. Những gốc tràm đan ken dày đặc xen lẫn những đầm sen, trảng cỏ và những giề lục bình dày đặc hiện ra trước mắt. Dù không trong mùa nước nhưng quang cảnh kỳ diệu của thiên nhiên tại khu rừng này cũng khiến mọi du khách phải ngỡ ngàng và thích thú.

Những cây thuỷ liễu mềm mại uốn mình bên gốc tràm xù xì, hoa tràm trắng muốt, chim hót trên cao, sen hồng khoe mình trong  đầm lá, những bông súng trắng dập dờn trên mặt nước, những con giang sen, cò, diệc, cồng cộc, le le các loại  thản nhiên  kiếm ăn  trên trảng cỏ ngập nước… tất cả như trong một bộ phim nào đó của kênh Discovery, khiến những chiếc máy ảnh đưa lên không ngớt. Không gian ngập  tràn hương tràm và hương cỏ.

Không chỉ phong phú về thực vật, rừng Trà Sư – với diện tích gần 850ha – là nơi trú ngụ của 70 loài chim thuộc 13 bộ và 31 họ, trong đó có 2 loài chim quý hiếm đã được ghi vào sách Đỏ Việt Nam là giang sen (Mycteria leucocephala) và điên điển (Anhinga melanogaster). Ngoài nhiều loài thú rừng và bò sát, rừng tràm Trà Sư còn có hơn 20 loài cá khác nhau, trong đó có 2 loài cá đang có nguy cơ tuyệt chủng là cá còm và cá trê trắng.

Rời con kênh lớn, chúng tôi đi đò chèo vào sâu trong khu rừng, len lỏi qua những gốc tràm được ôm kín bởi bèo tấm và bèo tai chuột. Một màu xanh biếc lạ kỳ lấp lánh dưới ánh sáng xuyên qua những gốc tràm già. Lâu lâu lại bắt gặp những nhành lá non ánh lên rực rỡ dưới nắng mặt trời. Rau muống nước, rau dừa và vô số những loài cây dại thuỷ sinh trổ những bông hoa trắng, vàng, tí, li ti  trong sóng sánh nước, ngay sát mạn xuồng.

Ngoài tiếng mái chèo, tiếng chim hót, hầu như có một sự tĩnh lặng gần tuyệt đối, tưởng như có thề nghe được tiếng đập của muôn vàn cánh bướm vàng bướm trắng bay lên từ mặt nước-bèo xanh biếc kia.

Thuyền trôi đi trong không gian xanh ấy như trôi trong miền ảo ảnh không thời gian, nhanh tới độ không thể biết được chiều đã buông xuống  từ khi nào. Rừng bỗng càng trở nên mênh mông hơn. Khi nắng đã nhạt màu, cũng là lúc chim rừng về tổ. Từ trên tháp canh 14m giữa rừng, có thể ngắm hàng ngàn cánh cò, rợp cả một vùng trời ráng đỏ của hoàng hôn đang dần tắt trên những ngọn cây.

Nguồn: Thể thao & Văn hóa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

~^o^~ ~X( ~O) ~:> o|~ o|^_^|o o|:-) o=> o-> o-+ m/ b-( ^O^||3 ^:)^ ^#(^ []==[] []--- [-X [-O< [-( X_X X( O:-) L-) I-) B-) @};- @^@||| @-@ @-) ?@_@? >:P >:D< >:/ >:) >-) =P~ =D> =; =:) =)) =(( <:-P <):) ;;) ;)) ;) :| :x :puke! :o3 :bz :ar! :^o :P :O) :D/ :D :@) :> :::^^::: :-w :-t :-s :-q :-j :-h :-c :-bd :-SS :-O :-L :-B :-@ :-?? :-? :->~~ :-> :-< :-/ :-* :-)/:-) :-(||> :-& :-$ :- :)] :)>- :)) :) :(|) :(tv) :(game) :(fight) :(( :( :!! 8-} 8-| 8-X 8-> 3:-O /:) +_+ ++ *-:) **== (~~) (:| (*) (%) %||:-{ %-( %*-{ %%- $-) #:-S #-o

facebook comments: